Lượm nhặt vụ Vietjet và U23

Một ít ghi chép và suy nghĩ nhanh  về vụ Vietjet ((DirtyAir=)) trong diễn biến U23

  • Xôi thịt, giá trị thương hiệu đi đôi với quyết định
  • Viral đỉnh, hợp phân khúc khách hàng
  • Truyền thông gây hại thương hiệu
  • Truyền thông xấu cũng là truyền thông
  •  “There is no such thing as bad publicity” “Good publicity, bad publicity is publicity.”
  • Tệ hại, vô nghĩa bởi Vietjet vốn là hãng bay được nhiều người biết đến, không cần kích hoạt độ phủ sóng theo kiểu sao xẹt
  • Dấu hiệu giảm cổ phiểu chỉ là nhất thời, giá trị thật của công ty đủ vững để kéo nó lên. Cổ phiếu rồi sẽ trở lại giá ban đầu và hãy đợi đấyl, rồi thì nó sẽ còn tăng cao hơn
  • Đây là một sự gây hấn cộng đồng có tính toán <Hòa Wisami>
  • <trích>Nếu nhân hóa Cộng đồng mạng CĐM Việt Nam thành một người, thì hẳn người đó rất nhạy cảm: dễ phẫn nộ, cũng cuồng nhiệt yêu thương; rầm rộ đánh chửi, rồi cũng nhanh quên lãng. CĐM bị gây hấn và dắt tay bởi ekip truyền thông của Chinsu, Chipu…và nay là DirtyAir. Trực tiếp hay gián tiếp, họ đưa ra những nội dung và thông điệp khiêu khích CĐM lan tỏa nỗi sợ hoặc phẫn nộ, để đạt được mục tiêu của họ. <trích>
  • THAM NHŨNG: một đối tượng, cá nhân hay tổ chức, lợi dụng đặc quyền đặc lợi để sử dụng trái phép tài nguyên chung cho lợi ích riêng và vi phạm quyền lợi của cộng đồng hay người khác.
  • Việc chuyên chở U23 Việt Nam, DirtyAir được trao cho sự chú ý của cộng đồng, và rồi sử dụng nó vào chủ ý gây hấn để thu lợi về truyền thông.

 

Advertisements

“Người nổi tiếng” là giải pháp giao tiếp của người đô thị như thế nào ?

Việc nhìn nhận người nổi tiếng như sự xuống cấp của văn hóa tinh hoa chỉ là một trong nhiều cách tiếp cận hiện tượng này, nhưng lại gần như là cách tiếp cận duy nhất tại ViệtNam. Bên cạnh tính thuyết phục của nó thì lối phân tích này không mở ra một cơ hội nào để xem xét tới chức năng xã hội của người nổi tiếng (bởi người nổi tiếng nhìn chung bị cho là một hiện tượng có hại nhiều hơn có lợi).

“Người nổi tiếng” có chức năng cân bằng nhu cầu giao tiếp của người đô thị

  •  nhu cầu “nhìn trộm”, “nghe lén” của con người được nối dài và đạt tới một phẩm cấp mới nhờ vào các phương tiện truyền thông đại chúng.  nhà xã hội học Louis Wirth (Mỹ) đã chỉ ra một đặc trưng xác đáng của đô thị  là sự chuyển đổi từ giao tiếp liên cá nhân (tức là giao tiếp trực tiếp giữa người với người) của lối sống nông thôn trên cơ sở gia đình, họ tộc, làng xóm, sang giao tiếp gián tiếp thông qua các phương tiện truyền thông.
  • Nói cách khác, truyền thông đại chúng là một trong những đặc trưng cơ bản của lối sống đô thị. Wirth phân tích: “Trong một cộng đồng mà số lượng cá nhân vượt quá khá năng quen biết riêng tư, cũng như việc tụ tập tại cùng một địa điểm là không thể, thì con người cần phải truyền thông với nhau thông qua các phương tiện gián tiếp, nhằm khớp nối những mối quan tâm của các cá nhân lại với nhau thông qua một quá trình ủy thác”. Wirth viết tiếp: “Những đám đông đại chúng trong các đô thị buộc phải lệ thuộc vào sự thao túng của các biểu tượng, các mẫu rập khuôn (stereotype) do những cá nhân đứng ở hậu trường điều khiển”
  • Cụ thể hơn, vào thời kỳ tiền văn hóa đại chúng, các cá nhân định vị sự tồn tại xã hội của mình bằng cách trò chuyện với hàng xóm, họ hàng, con cháu. Nhờ mối kết giao trực tiếp ấy mà họ biết mình thuộc về cùng một cộng đồng thông tin, bởi tất cả cùng biết chung một chuyện. Thế còn người đô thị? Họ tìm tới, ủy thác và lệ thuộc vào mạng lưới truyền thông đại chúng, để nhận biết sự tồn tại của mình như một cá thể của một tập hợp lớn hơn, từ đó, biết rằng họ vẫn là thành viên của một cộng đồng thông tin nào đó. Cái cộng đồng ấy, thay vì chia sẻ chuyện con bé Z ở đầu xóm vừa dính bầu, giờ cùng xôn xao về những bà mẹ nổi tiếng (ví dụ như câu chuyện sinh con của ca sĩ Hồ Ngọc Hà).
  • Những nhóm công chúng tham gia vào giao tiếp đại chúng một cách sâu sắc, ví dụ như giới văn phòng, hoặc thanh thiếu niên sẽ phát tán tin tức và bàn luận tích cực hơn các nhóm công chúng khác. Đồng nghĩa với điều đó là sự thiết lập một quá trình nối dài các câu chuyện đại chúng qua kênh giao tiếp miệng, từ đó, tạo ra một cộng đồng thực-ảo lẫn lộn, với sự đan cài phức tạp của nhiều hệ giá trị.

 

 

Celebrity like a product – Người nổi tiếng như là hàng hóa

Đây là đoạn trích, lược, tóm tắt của mình từ Blog của cô Thu Giang. Bài gốc của cô ở đây

Rút cuộc, phải có một ai đó có lãi trong toàn bộ quá trình danh tiếng hóa ồ ạt của ngành công nghiệp giải trí. Vật trao đổi then chốt trong ngành công nghiệp này không phải là tiền, mà là công chúng. Các bài báo, chương trình truyền hình, chương trình phát thanh v.v. thu hút công chúng, rồi bán họ cho nhà quảng cáo/ nhà tài trợ. Vì thế, trước mỗi thông điệp truyền thông, các nhà giáo dục về truyền thông đều nhắc nhở công chúng phải tự đặt câu hỏi: “Ta đang bán đôi mắt của mình cho ai?”

Chiến lược tạo lập hình ảnh một ngôi sao không có gì khác biệt với việc tạo lập thương hiệu cho một sản phẩm. Nói cách khác, chiếc Iphone cũng là một “celebrity”, nếu xét từ góc độ chiến lược xây dựng hình ảnh. Daniel Boorstin đã chỉ ra một khác niệm rất nổi tiếng là những sự kiện ngụy giả (psuedo-event) và những con người ngụy giả (psuedo-man) để phê phán khía cạnh thương mại hóa của ngành công nghiệp danh tiếng.

Ở Mỹ, không chỉ trong lĩnh vực giải trí, mà cả trong giới chính trị, các sự kiện đều được dựng lên cốt để truyền thông đưa tin về nó. Ở Việt Nam hiện nay, tiêu chí đánh giá sự thành công của mỗi sự kiện giải trí không phải là nó có tốt không, mà là truyền thông đưa tin về nó có tốt không. Người nổi tiếng được trả tiền để xuất hiện trong các sự kiện, tạo dáng chụp hình trước tên thương hiệu, rồi sau đó, cả người lẫn thương hiệu cùng xuất hiện trên mặt báo. Để tránh trở thành kẻ quảng cáo không công, nhiều tờ báo điện tử hiện nay xóa mờ tên thương hiệu trong các bức ảnh kiểu này. Tất nhiên, khi đó, người nổi tiếng càng xứng đáng được đăng hình vì việc đó bỗng nhiên trở nên “đạo đức” hơn thông qua hành vi khước từ quảng cáo.

 

Tactics in strategy to goals. Positive Motivation.

[Vietnamese below]

We know that people should make a plan (and stick to this) to achieve goals. And A perfect plan must offer both strategy and tactics within a reasonable order. However, sometimes I over hope that tips/tricks/hacks or tactics, in general, could offer a solution to the lack of motivation.

e.g. I tried a variety of tactics, in order to “force” myself to study or work hard. Turning off phones, restricting rewards like food and Youtube when I get something done, etc.

Actually, these don’t work very well over time. The real problem, the lack of motivation, isn’t being addressed. Nowadays, we all cope with dozens of distractions and competing priorities, motivation is often dangerously low.

So,

the solution is: Understanding what am I doing exactly, which includes I must know how they could affect my plan.  

A better approach is to put me to be highly motivated, set up a positive motivation. Get up early. Get enough sleep. Work out. Eat good food. Organize sessions.  Dedicate time each day to achieve the goal.

If I can do that, I won’t need to rely on clever tactics; I’ll just be able to “do it”

**

Tactic là chiến thuật thì strategy là chiến lược. Hai cái này đều không thể thiếu nếu muốn đạt được bất kì một mục tiêu nào. Giống như strategy là bộ xương sống, thì tactic là những mảnh thịt được đắp vào. Nếu con người mà thiếu xương sống thì rõ ràng không thể đứng lên được, còn thiếu thịt thì mặc dù có vẻ cũng đạt mục tiêu đấy, nhưng cũng không sống được luôn.

Cho nên sẽ là ngây thơ nếu chúng ta lấy những thủ thuật sau làm “phương pháp” chính để có những thói quen tốt : tạm thời tắt điện thoại, thưởng cho mình bằng  fast-food,  TV show, … Vấn đề là chúng ta thiếu động lực lành mạnh.

Việc tin rằng phần thưởng là những thứ tệ hại mà ta đang cố tránh, có thể tạo động lực để rèn luyện cho mình một thói quen tốt chứng tỏ rằng chúng ta đang có lỗi về mặt tư duy.

Mấu chốt giải quyết cho lỗi tư duy này là: Hiểu rõ những việc mình làm đang gây ảnh hưởng như thế nào với kế hoạch của mình.  (đừng đâm đầu vào làm khi được khuyên mà không cân nhắc một cách toàn diện và sâu sắc) và Làm việc với động lực tích cực. 

Khi chúng ta được thói quen tốt rồi, thậm chí không cần phụ thuộc những cái gọi là phần thưởng cả, chúng ta chỉ đơn giản là làm như thế thôi.

Không ăn thịt đơn giản là không ăn thịt, không phải là trừng phạt hay phần thưởng.

Hihi.

8.10.17

Các thuật ngữ Viết lách và sáng tác

Mang tiếng luyện tập viết thường xuyên chứ mình thật ra không có tí lí thuyết nào trong người cả. Ngại ghê! Bài nầy của tác giả Lê Di, mình cóp về để đọc dần, tìm hiểu về các hình thức và thuật ngữ sẽ làm mình đỡ bối rối, đỡ ngại.

Cách phân biệt thể loại của văn học được dựa trên nhiều yếu tố, tuy nhiên có ba yếu tố tiêu biểu là được nói ở đây là:

Hình thức (Form),

Thể loại (Genre) hay nội dung và

Bối cảnh (Setting).

1. Hình thức thể hiện (Forms)

Văn học (Literature) bao gồm HAI hình thức thể hiện chính (Major Forms): Thơ (Poetry) và Văn xuôi (Prose).

Tuy nhiên trong hai hình thức này lại có nhiều hình thức nhỏ hơn khác nên cũng có thể coi thơ và văn xuôi là hai cách thức (Techniques) viết. Các sub-forms tiêu biểu của văn học là: Tiểu thuyết (Novel), Truyện ngắn (Short story), Kịch (Drama), Thần thoại (Myth), Tiểu thuyết ngắn (Novella) và còn rất nhiều hình thức khác nữa (Fable, kịch bản, cổ tích…).

Về vấn đề độ dài của các hình thức này thì có khá nhiều tiêu chuẩn, đa dạng theo địa lý và các đơn vị xuất bản cũng như quan điểm cá nhân từng người. Tiểu thuyết là những tác phẩm có độ dài lớn nhất, theo sau đó là Tiểu thuyết ngắn, Truyện ngắn và ngoài ra còn có Flash fiction (ngắn nhất và đơn giản).

Thường thì truyện ngắn có độ dài nằm trong khoảng từ 1.000 – 20.000 từ, thông thường ở Việt Nam sẽ thấy ở khoảng 3.000 – 10.000 từ; dưới 1.000 từ thường được coi là Flash fiction.

Tiểu thuyết ngắn (Novella) được coi là có độ dài ở khoảng giữa của tiểu thuyết và truyện ngắn, nhưng cũng không có tiêu chuẩn rõ ràng. Ngoài ra còn xuất hiện Light novel của Nhật, tuy rằng có tiêu chuẩn khá rõ ràng về độ dài (không nhiều hơn 50.000 từ), nhưng khi nói đến Light novel người ta không quá chú ý đến độ dài của tác phẩm mà là nội dung (Plot và Setting) của nó, vì vậy một số có thể nhầm lẫn giữa Tiểu thuyết ngắn (Novella) và Light Novel trong khi tiêu chuẩn để đánh giá và phân biệt của hai loại này là khác nhau.

Nội dung của Light novel hướng tới giới học sinh ở Nhật, theo đó có thể coi nó tương đương với tiểu thuyết thiếu niên của phương Tây (Young Adult novel). Còn một hình thức nữa là Tiểu thuyết đồ họa (Graphic Novel) dưới hình thức tranh ảnh.

Kết, cho dù ở dưới dạng nào thì tất cả các tác phẩm văn học cần đảm bảo quá trình chính: Thắt Nút (Crisis) – Đỉnh Điểm (Climax) – Tháo nút (Resolution).

2. Thể loại (Genre)

Sau hình thức là nội dung, được xây dựng dựa trên hệ thống nhân vật (Character), Tình tiết (Plot), Bối cảnh (Setting) và Chủ đề (Theme)… nhằm xây dựng một tác phẩm có giá trị. Ở đây văn học cũng có HAI loại chính (Major genre categories): Tác phẩm hư cấu (Fiction) và tác phẩm có thật (Non-fiction).

• Các thể loại thường thấy trong tác phẩm hư cấu (Fiction) là:

– Kịch (Drama): Drama ở đây không nói đến hình thức mà là nội dung, tuy nhiên thì cách giải thích cũng khá giống nhau. Các tình tiết của thể loại này mang tính kịch, có thể được phóng đại ở một chi tiết nào đó nhằm phục vụ cho diễn biến cũng như nội dung của tác phẩm.

– Lãng mạn (Romance): Nói đến Romance thì đương nhiên người ta nghĩ đến tình yêu đầu tiên và nội dung này cũng chiếm phần lớn dòng văn học thị trường. Đối với văn học chính thống, có lẽ Romance ở đây không chỉ là về mặt tình cảm, mà còn nói đến những hi vọng, ước mơ, tương lai tốt đẹp của các nhân vật cũng như các đặt bối cảnh của tác phẩm. Tiêu biểu là ở thế kỷ XVIII – XXI – XX, lãng mạn (Romance) trong văn học Pháp là Cách mạng xã hội.

– Bi kịch (Tradegy): Nói nôm na là thỏa mãn người xem bằng sự đau khổ của nhân vật. Tình tiết thường là những sự kiện mang đến bất hạnh, khó khăn cho nhân vật và kết thúc thường không có hậu. Dù là bi kịch Hi Lạp (Greek Tradegy), La Mã (Roman Tradegy) hay thời kì Phục Hưng (Renaissance Tradegy) thì thường sẽ có NĂM giai đoạn chính (epic proportions): Hạnh phúc – Rắc rối xảy ra – Thế tiến thoái lưỡng nan – Đỉnh điểm của bi kịch, nhân vật không giải quyết được bi kịch – Kết thúc (không có hậu).

– Hài kịch (Comedy): Tình tiết hài hước, gây cười. – Trào phúng (Satire): Nội dung châm biếm, mỉa mai các vấn đề của con người, xã hội…

– Bi hài kịch (Tragicomedy): Sự kết hợp giữa hài và bi, yếu tố hài hước có thể mang vai trò làm sáng cảm xúc chung (mood) của bi kịch, hoặc bi kịch mà kết thúc có hậu. *

Ngoài những thể loại lớn nổi bật như trên thì ta cũng thường gặp rất nhiều thể loại khác chi tiết hơn nhằm miêu tả tình tiết câu chuyện: Kinh dị (Horror), Bí ẩn (Mystery), Gay cấn (Thriller), Phiêu lưu (Adventure), Gợi tình (Erotic)…

* Một số thể loại là sự kết hợp của nhiều yếu tố đã kể trên:

• Kinh điển (Classic): Được biết đến rộng rãi, mang giá trị nhân văn to lớn, thường xuất hiện trong Sách giáo khoa.

• Ngụ ngôn (Fable): Dùng hình ảnh các con vật, anh hùng… để diễn đạt sự thật, ý nghĩa nào đó.

• Fanfiction: Truyện về thần tượng, các nhân vật trong phim, truyện…

• Siêu tiểu thuyết (Metafiction): Thuật ngữ này có nghĩa là “beyond fiction” hoặc “over fiction”, người viết đứng ở vị trí trên hoặc ngoài vòng của những tình tiết và đánh giá nó hoàn toàn dựa trên quan điểm, suy nghĩ của bản thân. Có thể nói đây là thể loại thể hiện sự mâu thuẫn tự thân của tác giả, anh luôn tự phản bác mình bởi đầu óc con người là vô hạn. Đơn giản thì đây là thể loại mà tác giả thể hiện cái tôi của chính mình, đưa ra những bình luận, nhận xét, ý nghĩ chủ quan của chính mình. Người ta cũng có thể xếp Trào phúng (Satire) và Parody (Sự nhại lại, bắt chước để châm biếm) vào thể loại này, vì chúng cũng thể hiện cái nhìn của tác giả nhưng thông qua một kênh ngầm mang tính mỉa mai.

• Gothic Fiction: Sự kết hợp của Kinh dị (Horror) và Trào lưu/Chủ nghĩa Lãng mạn (Romanticism), trong đó sự kinh dị đến từ bối cảnh (setting) và nhân vật (character), còn lãng mạn lại được thể hiện ở tình tiết (plot). Hầu hết những tác phẩm tiêu biểu của thể loại này đều được sáng tác vào cuối thế kỉ XVIII và thế kỉ XXI, với nguồn gốc là từ nước Anh. Tác giả tiêu biểu: Edgar Allan Pole với bộ tác phẩm đồ sộ. Tác phẩm tiêu biểu: Frankenstein (Mary Shelly), Dracula (Bram Stoker)…

• Truyện cổ tích (Fairy tale), Truyền thuyết (Legend), Thần thoại (Mythology)… đã quá quên thuộc.

* Ngoài ra còn có các thể loại dựa nhiều hơn trên bối cảnh và nhân vật (Setting and Character):

• Truyện lịch sử (Historical fiction): Lấy bối cảnh và nhân vật ở trong hoàn cảnh lịch sử.

• Truyện lấy bối cảnh ở không gian lịch sử khác (Alternate history): Bối cảnh ở quá khứ do tác giả hư cấu.

• Tiểu thuyết tội phạm (Crime fiction): Nói về những động cơ của tội phạm, sự điều tra, suy luận các vụ án, tiêu biểu là những truyện trinh thám.

• Truyện trinh thám (Detective fiction): Nổi bật là Golden Age of Detective với Agatha Christie mà trước đó đã được hình thành từ Sherlock Holmes của Sir Arthur Conan Doyle. Hình thức tiêu biểu của thể loại này là “Whodunit” (Who done it?”).

• Truyện viễn tưởng (Fantasy): Quá quen thuộc với phù thủy, ma cà rồng, người sói, tiên nữ…

• Truyện viễn tưởng khoa học (Sci-fi): Những tác phẩm mà tác giả phải làm việc với khoa học, công nghệ, khám phá và trí tưởng tượng. Những concept quen thuộc là: Vượt thời gian (Time travel), Công nghệ tương lai, Thảm họa, Nghiên cứu khoa học… Trong Sci-fi còn có hai thể loại là Dystopian và Utopian fiction. |

• Dystopian fiction: Thể loại này thường lấy bối cảnh mà ở đó một sự cải cách, thay đổi về văn hóa, xã hội, đạo đức dẫn đến một kết quả tồi tệ, bất hạnh. Trong xã hội đó đầy rẫy những bất công và khổ đau, thể hiện cái nhìn tối tăm, bi quan của tác giả vào tương lai. Thể loại này thường xuất hiện các yếu tố chính trị (Political) và phê phán giai cấp cầm quyền.

• Utopian fiction: Ngược lại với Dystopian fiction, Utopian fiction lại miêu tả một thế giới lí tưởng (utopia) mà ở đó hệ thống chính trị và xã hội được coi là hoàn hảo và bối cảnh thường là ở xã hội cổ. Nó đặt ra một sự cải cách tốt đẹp, dẫn đến một tương lai tươi sáng. Cũng như Dystopian fiction, nguồn của thể loại này chính là chính trị (Political), xã hội (Social) và Triết học (Philosophical).

* Ngoài các thể loại trên thì còn một số những thể loại khác chiếm phần ít hơn nhưng vẫn được biết đến rộng rãi:

• Truyện về các nhân vật hư cấu (Epistolary Novel): Thể loại này hướng tới một đối tượng hư cấu cụ thể được tác giả xây dựng kĩ lưỡng và đặt trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó. Thông qua đó tác giả muốn nói tới những vấn đề về nghệ thuật, tâm lí, những bất công xã hội, những mâu thuẫn… Tuy nhiên theo thời gian thì thể loại này dần bị thay thế bởi tự truyện được kể bằng ngôi thứ nhất. Tác phẩm tiêu biểu: The Sorrows of Young Werther của Johann Wolfgang von Goethe.

• Truyện phiêu lưu hài (Picaresque Fiction): Kể về những cuộc phiêu lưu với sự kết hợp của hầu hết các yếu tố của văn học, nhưng đặc biệt là hai yếu tố phiêu lưu (Adventure) và Hài kịch (Comedy). Tác phẩm tiêu biểu: Don Quixote của Cervantes.

• Roman à clef: Tiếng Pháp, dịch chữ là “Tiểu thuyết với chiếc chìa khóa”. Thể loại này khá ít gặp, nó có sự xuất hiện của tiểu sử một nhân vật có thật nào đó, nhưng được tác giả hư cấu hóa một phần về hoàn cảnh của nhân vật đó, tuy nhiên thể loại này cũng có thể hoàn toàn ngược lại: đó là đặt một nhân vật hư cấu vào một xã hội, công đồng hoàn toàn có thật; nhằm thể hiện những mâu thuẫn, những vấn đề mà tác giả quan tâm.

Nguồn : Page Tác giả – Truyện Việt

Free will – Tự do ý chí

Những  góp nhặt nhanh sau khi đọc cuốn Free Will – Tự do ý chí 

Suy nghĩ và hành động của ta được quyết định bởi nhiều quá trình liên quan đến tinh thần trong tiềm thức, thứ mà chúng ta không kiểm soát được. Có nghĩa là khái niệm “tự do ý chí<free will>” thì ra là một trò hề. Chúng ta những tưởng mình có thể không chế, nhưng thực chất thì không có. Vì thế, ta cần thích ứng, để cùng chung sống và giúp đỡ người khác một cách hiệu quả.

Chúng ta không có tự do ý chí

Mặc dù hành động của chúng ta được định trước bởi bộ máy sinh học, thì cách chúng ta lựa chọn vẫn quan trọng. Chúng ảnh hưởng nghiêm trọng đến thế giới, dù chúng ta không tạo ra nó.

Nhận thức và đạp đổ ảo tưởng về tự do này không khiến ta bớt phụ thuộc vào định mệnh.

Tự do ý chí và đạo đức. Trừng phạt và phục hồi

Chúng ta cần nhìn nhận tách biệt giữa “sự phạm tội (criminality)” và “tội phạm (criminal)”

Cách hiểu chung của chúng ta về đạo đức dựa trên ngầm hiểu rằng con người có khả năng ra quyết định cho mình. Nếu ai đó biết việc này là xấu nhưng vẫn làm, chúng ta đánh giá đây là hành động sai trái,
nếu một người bị tâm thần giết ai đó chỉ bởi “cho vui”, chúng ta nghĩ rằng anh ta phải bị trừng phạt.

Nhưng chúng ta cũng biết, những người bị bệnh tâm thần thì không thể làm chủ bản thân (lack of free will), điều này có làm thay đổi nhận thức (perception) của ta về một hình phạt thích hợp không?

Đúng là cần bắt giam người đe dọa đến sự an toàn của các cá nhân trong xã hội. Tuy nhiên, sẽ là phi đạo đức nếu ta bắt giam anh ta (thậm chí là tên tội phạm khát máu), bởi vì anh ta được sinh ra đã thiếu may mắn.

Tội phạm thì khác. Người bị bênh thâm thần hay bị ung thư não đều thiếu đi tự do ý chí. Vì vậy, thay vì tìm kiếm sự công bằng thông qua trừng trị, chúng ta, xã hội cần tập trung vào sự ngăn chặn và phục hồi

Nhận thức về tự do ý chí có nghĩa gì trong xây dựng chính sách?

Nó chủ yếu ảnh hưởng tới những chính trị gia, người thường khước từ sự thật rằng con người thiếu ý thức kiểm soát cuộc đời của họ. (Ít nhất tại Mỹ, dễ dàng nhìn thấy lối tư duy này ở những công dân bảo thủ chính trị)

Những chính trị gia này tin rằng con người có được sự kiểm soát tuyệt đối hành động của bản thân và có thể quyết định tương lai họ muốn. Họ không thừa nhận sự tồn tại của vốn may mắn cố hữu cơ bản trong thành công của ai đó.

Thậm chí, những triệu phú tự thân (self-made millionaires) – vốn được các học giả bảo thủ tán dương – họ cũng sở hữu những nét di truyền độc nhất, có được những trải nghiệm riêng biệt và có lẽ, thậm chí nhiều đặc quyền giúp họ đến nơi họ muốn – một chuỗi các sự kiện mà nhóm bảo thủ khước từ công nhận.
Làm chính trị đòi hỏi sự thay đổi khi cần thiết, thậm chí tìm những cách tiếp cận khác khi sự thay đổi không cần thiết, hoặc không hiệu quả. Họ cần hiểu rằng ai trong chúng ta cũng thiếu đi tự do ý chí, và theo đó mà phụng sự xã hội.

Các câu hỏi và diễn giải lớn được khơi mở và giải đáp trong bài

– Tại sao bộ não của chúng ta “muốn”, không phải bản thân chúng ta

– Con người có tự do ý chí hay không?

– Tại sao kẻ sát nhân không giết người một cách có ý thức,

– Tại sao những chính sách chính trị bảo thủ được xây dựng dựa trên những ngộ nhận khoa học?
–  Các vấn đề tôn giáo mạnh mẽ hơn, liên quan đến tự do ý chí, tiền định, chúa có kiểm soát hành động của chúng ta không? có biết trước với hành động của chúng ta không

April Anxiety

Khi lòng người chộn rộn, trời đẹp lại giống như trêu ngươi.

Nếu xa Hà Nội, điều gì khiến bạn nhớ nhất? Tôi có hai điều
Một là những đêm rất khuya, mắt nhìn ánh sáng các công trình hắt vào tường, tai nghe đục đục gõ gõ.
Hai là những ngày trời lạnh, bước chân sáo trên đường mà thấy hân hoan đến kì lạ.

Mọi người bảo, thỉnh thoảng nếu cảm thấy đã bớt yêu Hà Nội, thì bạn phải dậy thật sớm thật sớm. Lần đầu Hà Nội của tôi cũng là lúc trời đương còn rất sớm rất sớm như thế này.

Ảnh chụp ở Hồ Thành Công, Hà Nội

Vin School và Ivy

<Stt của anh Đàm Quang Minh, nguyên hiệu trưởng FPT, nay là hiệu trưởng ĐH Thành Tây>

Các insights là bổ ích. Mặc dù các insight liên quan đến “business majors” thì có khả năng nhận ra, vì người ta không dấu và tôi cũng quan tâm; nhưng insight về “medical majors” thì tôi ít quan tâm nên khá mới mẻ. 

Mấy hôm nay các cuộc đàm luận về VinUniversity dường như không dứt. Các cung bậc cảm xúc từ cuồng nhiệt ủng hộ đến phỉ báng chê bôi. Chuyên gia Duc A. Hoang thậm chí còn đưa ra bảng phân loại 7 cách hành xử để mỗi người lựa chọn vị trí của mình. Nhưng câu hỏi lớn nhất với tôi là tại sao lại có cú chạm tay đó và nên hiểu thế nào?

1. Cú chạm tay:

Có thể nói là buổi ký kết rất hoành tráng được diễn ra trong khuôn viên VinHome đã gây khá nhiều xôn xao. Nhiều người cho rằng điều này là rất khó, vô tiền khoáng hậu. Tuy nhiên nếu nhìn vào lịch sử hợp tác của Việt Nam với các trường Ivy Leage thì đã có 2 hợp tác có thể coi là tương tự bao gồm (1) ĐH Harvard và Chương trình Thạc sĩ Chính sách công Fulbright. (2) ĐH Carnegie Mellon (CMU) chuyển giao cho một số trường ĐH tư thục của Việt Nam chương trình đào tạo về CNTT (ĐH Duy Tân vẫn đang thực hiện). Trường hợp thứ nhất có lẽ liên quan nhiều đến quan hệ hợp tác chính phủ. Còn trường hợp thứ hai thì là thương vụ mà CMU thu về khá nhiều tiền.

Theo suy đoán của cá nhân, cú chạm tay với UPenn và Cornell lần này thuộc diện thứ hai. Và hợp tác chặt chẽ hơn để một trong các đối tác này mở campus và đào tạo ở Việt Nam là không tưởng. Hợp tác dừng ở mức độ giới thiệu giáo sư, thẩm định chương trình.

(CMU không phải thuộc Ivy Leage nhưng xếp hạng cùng các trường Ivy Leage, lúc đầu có nhầm lẫn là MIT )

2. Tại sao là business:

Trong những năm gần đây, sinh viên business các quốc gia phương tây nếu có kinh nghiệm Châu Á thì sẽ là một lợi thế vô cùng to lớn trong CV. Cá nhân tôi đã giới thiệu một vài đoàn sinh viên MBA của một trường thuộc Ivy Leage đến thực tập tại công ty Việt Nam. Điều này là dễ hiểu vì nên kinh tế thế giới năng động, phát triển nhanh nhất đang diễn ra ở Đông Á và Đông Nam Á. Cơ hội hợp tác với các quốc gia này đòi hỏi Ivy Leage tính chuyện cung cấp kinh nghiệm thực tế làm việc tại những quốc gia Châu Á. Trong bài trình bày của mình, Cornell cũng không dấu diếm điều này.

3. Tại sao là y, điều dưỡng:

Thực ra Việt Nam là điều mơ ước của các nhà nghiên cứu của UPenn. Tỷ lệ Bác sĩ trên đầu bệnh nhân vẫn còn thấp khiến cho các sinh viên quốc tế nếu có đến cũng có được cơ hội thực tập nhiều.

Một bác sĩ các quốc gia phương tây thực hành mổ 1 ca/ngày là nhiều thì ở Việt Nam, một bác sĩ giỏi có thể mổ cả chục ca. Hơn nữa, việc nghiên cứu lâm sàng trên người bệnh ở Việt Nam quy định còn khá lỏng, điều này giúp cho các thử nghiệm lâm sàng mới có thể được thực hiện dễ dàng hơn đối với các nghiên cứu mới. Điều này là vô cùng khắt khe ở Mỹ và Châu Âu. Trong nội dung hợp tác, trường y UPenn cũng nói rất nhiều đến VinMec, đến hợp tác trao đổi thực tập sinh viên và nghiên cứu. Nhưng thực tế chắc lượng sinh viên UPenn sang VN sẽ nhiều hơn chiều ngược lại.

4. Khả năng thành công:

Có một số điển hình trường tiến bộ nhanh chóng và chiếm lĩnh được các bảng xếp hạng.

Trong đó phải kể đến các trường như Warwick (UK), NUS, NTU (Sing) hay một loạt trường ĐH hàng đầu của Trung Quốc. Một số thành lập khá muộn hoặc trước đó không có tên tuổi đẳng cấp thế giới. Nhưng sau thời gian rất nhanh, các trường này đã đứng trong hàng ngũ các trường danh giá. Đặc điểm chung là họ bỏ rất nhiều tiền để lôi kéo các GS hàng đầu trên thế giới đến giảng dạy và nghiên cứu tại trường. Đó có vẻ như cũng là chiến thuật mà VinUniversity áp dụng. Do vậy, khả năng thành công là một câu hỏi mở. Nhưng một điều chắc chắn, đây là cuộc chơi vô cùng tốn kém.

Thay lời kết, Việt Nam có những điều mà các trường như Cornell hay UPenn thèm muốn. Nếu Vin tận dụng được và có đường đi đúng thì việc đứng trong top 350 trường world-class là có khá đủ xác xuất thành công. Dù sao cũng chúc mừng một tay chơi mới rất dũng mãnh. Các trường đại học ở VN có thể e ngại nhưng chắc chắn là các giảng viên, sinh viên, phụ huynh chắc chắn được hưởng lợi vì có thêm một lựa chọn khác biệt.

Ba nhóm động lực lớn: sự nghiệp, cộng đồng và mục tiêu

<dịch từ HBR>

Chúng tôi khảo nhóm lao động của mình hai lần một năm, hỏi nhân viên những gì họ cho là có giá trị nhất. Sau khi kiểm tra hàng trăm nghìn câu trả lời, nhiều lần, chúng tôi đã xác định được ba nhóm động lực lớn: sự nghiệp, cộng đồng và mục tiêu .

Nghề nghiệp <Career> là về công việc: có một công việc có được sự tự chủ, cho phép bạn sử dụng thế mạnh của bạn, và thúc đẩy việc học tập và phát triển của bạn. Đó là trọng tâm của động lực nội tại.

Cộng đồng <Comminity> là về con người: cảm giác được tôn trọng, chăm sóc, và được người khác công nhận. Nó thúc đẩy cảm giác kết nối và sự thân thiện của chúng ta.

Nguyên nhân <Cause> là về mục tiêu: cảm thấy rằng bạn tạo ra một tác động có ý nghĩa, gắn kết với sứ mệnh của tổ chức, và tin rằng nó đống góp điều tử tế cho thế giới. Đó là nguồn tự hào.

Ba cột trụ này tạo nên một thứ, gọi là hợp đồng tâm lý – những kỳ vọng và nghĩa vụ không bắt buộc giữa nhân viên và chủ. Khi hợp đồng đó được đồng thuận, mọi người mang toàn bộ bản thân để làm việc. Nhưng khi nó bị vi phạm, mọi

Psychology safety – An toàn tâm lý trong xây dựng nhóm

<Dịch từ Havard Business Review>

Khi thất bại trong việc cải thiện chất lượng tương tác, chúng ta đánh mất ích lợi của việc thảo luận giữa những người khác nhau. Kết quả là ta thiếu hiểu biết, ta ít sự lựa chọn sáng tạo, ta giảm cam kết hành động, ta tăng lo lắng và kháng cự, giảm tinh thần và hạnh phúc

Một không gian an toàn mặt tâm lý sẽ kích thích sự đa dạng trong nhận thức và đặt những trí tuệ khác biệt để trải nghiệm những hành trình khó khăn, chiến lược gập ghềnh.

Cách mọi người hành xử quyết định chất lượng của sự tương tác và văn hoá nhóm.

Các nhà lãnh đạo không chỉ cần cân nhắc mình nên làm gì, mà quan trọng hơn, sẽ không làm gì. Họ cần phải phá vỡ các mẫu hành vi vô ích và cam kết để thiết lập các thói quen mới. Nền tảng của thực hành điều này thành công, mọi người cần củng cố và duy trì sự an toàn về tâm lý thông qua các cử chỉ và phản ứng liên tục. Mọi người không thể diễn tả sự khác biệt nhận thức của họ nếu họ không cảm thấy an toàn. Nếu các nhà lãnh đạo tập trung vào việc nâng cao chất lượng tương tác của hội ngũ, hiệu quả kinh doanh và hạnh phúc sẽ theo đuổi họ.

Tư duy sử của người hiện đại trong các thảo luận về chuyện của người khác

Stt của anh Minh Đào, có tính liệt kê và nói cho bạn bè nghe là chính, vì nhiều khái niệm được nhắc đến chứ không diễn giải kĩ. Không sao cả :))). Tuy nhiên, bài này có nhắc đến khái niệm “sử thực” và niềm tin con người có thể tìm thấy lịch sử khách quan. 

————–

Cmt về vụ chị Thảo và anh Vũ, có đọc thấy 1 bạn viết rằng “Câu chuyện nào cũng có ba phiên bản: của bà ấy, của ông ấy và sự thật. Không ai nói dối cả.” Và theo kinh nghiệm đi nghe các bạn nói về sự đổ vỡ trong tình yêu của mình, thì đúng là không ai nói dối. Tuy nhiên, bạn cmt kia dường như cũng dính cái lỗi đặc thù trong tư duy của người hiện đại (hoặc do học lịch sử VN quá nhiều) rằng có một thứ là sự thật khách quan.

Khi đi nghe, các bạn cũng hay hỏi mình rằng thế do là tớ đúng hay cậu người kia sai, chứ không thể chấp nhận rằng cả hai cùng đúng (và cùng sai), vì họ luôn tin rằng có một phiên bản khách quan, không bị ý kiến chủ quan làm sai lệch.

Tất nhiên, những cái sự kiện kiểu cô ấy đã làm thế này, vào giờ này, tại chỗ này là thứ có thể kiểm chứng được khách quan, nhưng trong những câu chuyện lớn (grand narrative) thế này thì nó không thực sự quá quan trọng (giống như số viên đạn được bắn ra, số máy bay, cũng có ý nghĩa, nhưng không quá quan trọng [về mặt trải nghiệm khi đọc hay kể chuyện] trong lịch sử]. Quan trọng là cái narrative mà đây là 1 thứ không bao giờ có tách được chủ đề khách quan ra để gạn lọc cái gọi là sự thật khách quan.

Vậy nên, sau này các bạn có đi nghe chuyện [đặc biệt là chuyện tình yêu, vì đó là nơi có nhiều sự biến dạng về việc giải thích thực tại nhất], hãy tư duy một chút như người hậu hiện đại, rằng luôn có một mặt kia của câu chuyện, có thể sai lầm ngược hoàn toàn với câu chuyện bạn vừa được nghe, và điều đó không sao cả.

Ai xem Gone Girl (Cô gái mất tích), hay đặc biệt là bộ phim The Invisible Guest (Sát Thủ Vô Hình, Phim Tây Ban Nha) thì hiểu rằng dường như mọi thứ chỉ (và quan trọng hơn cả facts) là narrative.

Seeking system – Cơ chế mưu cầu

Dịch từ Havard Business Review

Tới một lúc nào đó, mỗi người lãnh đạo phải đối mặt một người, hoặc tệ hơn, một nhóm người, đang dần mất cảm hứng. Dù chúng ta vẫn như thế nhiều, nhưng nhiều khi thật vất vả để thông cảm với người khác, lúc họ đang bệ rạc và làm việc thiếu hiệu quả. Thỉnh thoảng, chúng ta nhìn vào tình trạng khốn khổ của họ giống như một tật xấu của tâm tính, và, vì thế, chúng ta nghĩ họ có thể nuốt nó vào, hoặc bỏ cái tật đó đi.

Nếu ta là một lãnh đạo, tư duy này khá dễ xảy đến, nhưng nó làm phản tác dụng. Nó phớt lờ tất cả những lí do đằng sau việc một ai đó mất đi cảm hứng với việc họ làm (hoặc là chưa bao giờ tìm thấy cảm hứng để bắt đầu)

Để vào đến trọng tâm vấn đề thì buộc phải hiểu rằng, con người chúng ta luôn mong muốn được thúc đẩy và muốn tìm được ý nghĩ bất kì điều gì chúng ta làm. Nó là một phần của con người sinh học. Trên thực tế, một phần của não bộ gọi là cơ chế mưu cầu nó tạo ra những xung lực tự nhiên thôi thúc ta học kĩ năng mới, tiếp nhận nhiệm vụ dù thử thách nhưng có ý nghĩa. Và khi theo đuổi chúng, ta nhận về một cú xóc của dopamine – một chất dẫn truyền thần kinh có liên kết với động lực và sự thỏa mãn. Điều này khiến ta càng khao khát dấn thân vào các hoạt động này. Khi hệ thống mưu cầu này được kích hoạt, ta cảm thấy nhiều cảm hứng hơn, làm việc có mục đích và nhiều say mê. Chúng ta có nhiều sức sống hơn là vì thế.

Chỉ có thể đợi

chicago med.GIFCảnh đầu Chicago Med hôm nay là một bà mẹ mang thai chưa đến 24 tuần, có dấu hiệu sinh non. Dr. Manning đã hỏi ông bố và bà mẹ rằng

– Trong trường hợp cậu bé được sinh ra trong hôm nay, ông bà muốn chúng tôi dùng mọi biện pháp để cứu cậu bé, hay là để cậu được thoải mái*?

<thoải mái ở đây nghĩa là để cậu bé chết mà không đau đớn>

Dù câu trả lời có thế nào đi chăng nữa, thì họ phải trải qua một thời gian chờ đợi.

Thực sự, chờ đợi là một thứ gì đó mà chúng ta luôn không muốn, bởi chúng mơ hồ và có nhiều rủi ro. Tôi biết, vì tôi cũng đang đợi kết quả từ Minerva, vâng, chỉ có thể đợi thôi và không thể làm gì khác.

Tôi đã tự nhủ là mình phải bình tĩnh hơn, nhưng thực sự nó khó thật. Tâm tình thôi không thể như bình thường. Nếu tôi cứ tiếp tục chộn rộn như thế này thì chắc chắn sẽ tốn nhiều thời gian. Tôi quyết định lập kế hoạch chặt chẽ hơn để mình không phải bị lo lắng những thứ không đâu nữa.

Dạo này tôi nhắc mình phải học viết nhiều hơn, viết Tiếng Anh ấy.

Đi học đây.

 

ỐM TRẺ

Hai năm nay tôi ốm khoảng 3 lần. Li bì cả ba. Lần 1 là sau khi mổ chân, cuối 2016, có thể do sức đề kháng yếu. Lần 2 là khoảng 8.2017, ở Sài Gòn bị trúng gió. Lần này thì bị sốt một tuần.

Đó là cái ốm thể chất. Thỉnh thoảng ốm một trận cũng được, là để mình có sức mà sắp xếp lại những chộn rộn. Ốm dậy chạy một vòng, thế là sảng khoái.

Còn một loại ốm tư tưởng nữa. Càng trẻ càng dễ ốm. Tinh thần không ổn định, quan điểm không vững vàng, trải nghiệm còn thiếu, nên dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngoài.

Nói thật, ốm kiểu nào tôi cũng sợ, nhưng rồi cũng không sợ, biết làm sao cho được. Nhất là bây giờ, có những thứ khó khăn quá, tôi chỉ muốn cầu mong là mình có thể vượt qua thôi. Nhiều khi không biết làm gì ngoài chờ đợi.

Tự nhiên trong đầu lại bật ra câu này “Cây sẽ cho lộc và cây sẽ cho hoa …”

<ảnh chụp ở Hội An, làng rau truyền thống Trà Quế>

Mũ cối, hình ảnh của sự bình đẳng

Bác Dương Thụ vừa được trao tặng giải thưởng của Quỹ Văn hóa Phan Chu Trinh “Vì sự nghiệp Văn hóa và Giáo dục”, giải thưởng nhằm tôn vinh những danh nhân văn hóa trong thời đại mới.

Trong bài phát biểu của bác, mình chú ý lắm cái hình ảnh này : “Hơn 30 năm trước khi tôi trở về Hà Nội lần đầu tiên, đi chơi phố, ấn tượng đập vào mắt mạnh nhất là mũ cối, một Hà Nội mũ cối xoá nhoà mọi sự khác biệt của các tầng lớp người. Lính và dân thường: mũ cối; Văn nghệ sĩ trí thức và người làm ăn: mũ cối; Dân “xã hội đen” cũng…: mũ cối!  Tôi nghĩ về “xã hội mũ cối” mà buồn. Mũ cối là hình ảnh có tính biểu tượng cho xã hội “bình đẳng giới”. Một xã hội như thế không thể có cái gọi là giới tinh hoa, dù người tinh hoa thì lúc nào cũng có chỉ là nhiều hay ít thôi. Bây giờ “xã hội mũ cối” đã trở thành quá vãng.”

Mình luôn gọi là bác Dương Thụ, thay vì là Nhạc sỹ Dương Thụ, không chỉ bởi vì cảm thấy yêu mến và gần gũi, mà còn có một lí do quan trọng hơn là những đóng góp của bác. Đâu chỉ có Âm nhạc Nghệ Thuật, những đóng góp rộng hơn là Văn hóa và Giáo dục là thứ khiến những người thấu hiểu đều cảm thấy tôn trọng.

Nguyên văn bài phát biểu trên Web Cà phê thứ bảy, và trên Web Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh

Here, Now

– Cho em đi đến một thời gian nào đó, một địa điểm nào đó, em sẽ chọn cái gì?

– Sao anh hỏi thế?

– Gần đây anh nghĩ, anh muốn làm một nhạc công, biểu diễn trong một thư viện ở Ý, khoảng đầu những năm 1860 chẳng hạn.

– Òa, thư viện nghe có vẻ ổn. Nhưng nhạc công, năm 1860 á? Sao anh lại nghĩ ra được nhỉ …

– Còn em ?

– <uhm>, here, now, that’s all. Be present

Đúng rồi, chính tại nơi đây và ngay lúc này. Cuộc đời đáng sống và nó luôn như thế. Chỉ có thể ở hiện tại mới đủ chân thành. Giống như cách tôi luôn nhắc mình về thái độ đối với cuộc sống, hết mình và tập trung vào hiện tại. 

 

-dln

 

The Viet Nam PAPI

The Viet Nam Provincial Governance and Public Administration Performance Index (PAPI) is the country’s largest annual time-series, citizen-centric, nationwide policy monitoring tool.

Over the years, PAPI has collected the views of 103,059 randomly selected citizens about the country’s performance in governance and public administration, based on their direct interactions with local governments at different levels.

PAPI generates information about the actual performance of local authorities in meeting citizen needs. By doing so, it has created constructive competition and promoted learning among local authorities, while enabling citizens to benchmark their local government’s performance and advocate for improvements.

******

PAPI là khảo sát xã hội học lớn nhất tại Việt Nam, tập trung tìm hiểu hiệu quả công tác điều hành, thực thi chính sách, cung ứng dịch vụ công dựa trên đánh giá và trải nghiệm của người dân, với dữ liệu được thu thập thường niên.

Từ năm 2009 đến 2017, 103.059 người dân, được chọn ngẫu nhiên trên phạm toàn quốc đã tham gia đánh giá hiệu quả quản trị và hành chính công từ trải nghiệm tương tác trực tiếp với chính quyền các cấp.

Các cơ quan phối hợp thực hiện:
🔹 Chương trình Phát triển Liên Hợp quốc tại Việt Nam (UNDP)
🔹 Trung tâm Nghiên cứu phát triển và Hỗ trợ cộng đồng (CECODES)
🔹 Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ và Nghiên cứu khoa học Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (VFF-CRT)
🔹 Công ty Phân tích Thời gian thực (RTA)